10-04-2026VNINDEX1750
13.320.77% HNXIndex251.91
0.930.37% UPCOM127.38
-0.12-0.09% VN301928.23
13.220.69% VN1001856.76
13.270.72% HNX30548.48
2.310.42% VNXALL2891.53
18.850.66% VNX503238.48
24.630.77% VNMID2242.64
9.200.41% VNSML1425.33
-2.12-0.15% VSC – LNST tăng chậm do áp lực chi phí tài chính, dù hoạt động cốt lõi khởi sắc

10-04-2026
: VSC
: Cảng biển
: Cao Ngọc Quân
Tags:
- Năm 2025, Thị phần của VSC đạt 15,7% (-27 bps YoY) trong bối cảnh có bốn bến cảng mới tại Lạch Huyện đi vào hoạt động. Nhờ sự hợp tác cùng với đội tàu của HAH nên thị phần của VSC không bị sụt giảm quá mạnh, ghi nhận đạt 1.291 nghìn TEU (+10% YoY), bám sát mức tăng trưởng 12% của khu vực.
- Lũy kế năm 2025, doanh thu thuần và LNST-CĐM lần lượt đạt 3.231 tỷ đồng (+15% YoY) và 341 tỷ đồng (+1% YoY), tương ứng hoàn thành 99% và 103% so với dự phóng. Nhìn chung, tăng trưởng doanh thu được thúc đẩy bởi việc hợp nhất cảng Nam Hải Đình Vũ từ Q4-FY24. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư tài chính chưa mang đến hiệu quả trong ngắn hạn, khiến LNST-CĐM chưa tăng trưởng tương xứng.

Vận hành hệ thống điện trong Q1/2026: Công suất mở rộng, giá mua không đổi

09-04-2026
: POW, NT2, PPC, REE, GEG
: Năng lượng
: Nguyen Duc Chinh
Tags:
- Sản lượng tiêu thụ điện toàn hệ thống trong Q1/2026 tăng 6,5% YoY, phụ tải cực đại tăng trưởng 6,7% YoY nhờ các đường dây truyền tải mới.
- Sản lượng thủy điện duy trì mức tăng trưởng 7,8% YoY do ảnh hưởng kéo dài của pha La Niña. Sản lượng điện khí tăng 15,5% YoY nhờ đóng góp của nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3&4.
- Giá thị trường toàn phần (FMP) bình quân trong quý đi ngang (-2% YoY) do nguồn cung thủy điện còn dồi dào, giá nhiên liệu nhiệt điện thấp. Sang Q2/2026, khi nguồn cung thủy điện giảm dần, chi phí nhiên liệu tăng cao, chúng tôi kỳ vọng giá FMP sẽ tăng tương ứng, dẫn đến khả năng EVN sẽ tăng giá bán lẻ điện.

TRC – KQKD Q1/2026 kỳ vọng ghi nhận tích cực nhờ giá bán neo cao

08-04-2026
: TRC
: Hóa chất
: Giao Nguyễn
Tags:
- Doanh thu và LNST-CĐM Q1/2026 ước tính đạt 235 tỷ đồng (+4% YoY) và 73 tỷ đồng (+3%YoY). Sản lượng cao su được kỳ vọng tăng nhẹ, trong khi giá bán bình quân có sự điều chỉnh so với nền cao cùng kỳ nhưng vẫn neo ở mức 50 triệu đồng/tấn.
- Mảng cao su bước vào "độ tuổi vàng" vào năm 2026 và sản lượng khai thác dự kiến tăng +12,2% YoY, nhờ 100% diện tích tại Campuchia và 62% tại Việt Nam bước vào độ tuổi khai thác ổn định.
- Lợi nhuận 2026 kỳ vọng tăng trưởng với giả định TRC có thể hạch toán nhận đền bù 248 ha đất tại KCN Hiệp Thạnh (với đơn giá 1,3 tỷ đồng/ha), là động lực chính đưa LNST cả năm đạt 624 tỷ đồng (+150% YoY).

Thị trường Tungsten – Câu chuyện bùng nổ giá bán gấp ba lần trong sáu tháng

07-04-2026
: MSR, MSN
: Nguyên vật liệu
: Hưng Nguyễn
Tags: MSN MSR
- Giá Tungsten APT (đại diện Europe Tungsten APT 88.5% In warehouse Rotterdam) ghi nhận đà tăng đột biến qua từng tháng lần lượt 24,9%/34,3%/43,9% MoM ở T1/2/3 năm 2026, đạt mức 2.495 đô/MTU vào ngày 01/04/2026 – mức cao nhất mọi thời đại. Điều này xảy ra do sự mất cân đối cung – cầu trên thế giới từ 2025 liên tục gia tăng liên quan đến biến động tại hai quốc gia dẫn đầu trong sản lượng khai thác/tiêu thụ, Mỹ - Trung.

HPG – Biến động ngắn hạn, tăng trưởng dài hạn

06-04-2026
: HPG
: Nguyên vật liệu
: Đỗ Thạch Lam, CFA
Tags:
- Trong quý 4/2025, HPG ghi nhận doanh thu tích cực và đạt 46,2 nghìn tỷ đồng (+34%YoY, +27%QoQ), với sản lượng tiêu thụ 3,1 triệu tấn (+63%YoY, +29%QoQ). Điểm trừ nằm ở biên lợi nhuận gộp (GPM) quý 4 suy giảm so với quý trước và đạt 13,9% (tuy nhiên vẫn cao hơn so với giai đoạn 2023-2024) –đến từ việc giá nguyên liệu đầu vào – đặc biệt là than cốc – tăng ~10%QoQ trong khi giá thành phẩm duy trì ổn định.
- Cho quý 1/2026 chúng tôi dự phóng HPG sẽ ghi nhận tăng trưởng tích cực ở cả doanh thu và LNST-CĐM, lần lượt đạt 53 nghìn tỷ đồng (+41%YoY) và 5.100 tỷ đồng (+52%YoY) – biên lợi nhuận hồi phục nhẹ so với quý trước, nhờ lợi thế tích trữ hàng tồn kho. Cho cả năm, HPG đặt kế hoạch doanh thu và LNST lần lượt đạt 210 nghìn tỷ đồng (+35%YoY, tương ứng 107% dự phóng) và 22 nghìn tỷ đồng (+29%YoY, tương ứng 110% dự phóng).

Điều hành Lãi suất – Tỷ giá: Vai trò của cân đối hệ thống

03-04-2026
: VDS
: Vĩ mô
: Bùi Duy Khoa
Tags:
- Từ cuối năm 2025 đến nay, áp lực tăng lãi suất – tỷ giá là trọng tâm trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Sự mất cân đối giữa huy động và tín dụng, khiến hệ thống ngân hàng phải phụ thuộc lớn vào nguồn tiền gửi từ Kho bạc Nhà nước để hỗ trợ thanh khoản.
- Tín dụng bất động sản và các dự án đầu tư công tiếp tục chiếm tỷ trọng dư nợ cao, tạo ra nhu cầu vốn dài hạn lớn và đẩy chi phí huy động lên mức kỷ lục (làm sâu sắc thêm tính mất cân đối giữa huy động – tín dụng). Bên cạnh đó, xung đột tại Trung Đông đã gây áp lực tiêu cực đến giá xăng dầu, từ đó gây thêm áp lưc đến tỷ giá và mặt bằng lãi suất.
- Trước bối cảnh phức tạp, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động thực hiện các nghiệp vụ điều tiết thanh khoản trên thị trường mở và bán ngoại tệ kỳ hạn nhằm hỗ trợ tỷ giá. Đồng thời, việc điều hành linh hoạt chính sách thanh khoản sẽ là chìa khóa để giải quyết tình hình mất cân đối hiện tại, từ đó, vấn đề tỷ giá và lãi suất cũng được gỡ nút thắt.

Ngân hàng – Triển vọng nhóm ngân hàng quy mô trung bình dựa trên các trụ cột chiến lược

02-04-2026
: OCB, VIB, MSB, SSB, TPB, LPB, NAB
: Ngân hàng
: Trang Tô
Tags:
- Ngành ngân hàng tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh ngày càng khốc liệt với sự phân hóa rõ rệt giữa các ngân hàng quy mô lớn và nhóm ngân hàng quy mô trung bình, khi các ngân hàng lớn tận dụng lợi thế về quy mô, chi phí vốn và quản trị rủi ro để gia tăng thị phần và lợi nhuận, buộc nhóm ngân hàng tầm trung phải theo đuổi các chiến lược khác biệt thay vì cạnh tranh trực diện.
- Các ngân hàng quy mô trung bình đang định hình chiến lược phát triển dựa trên bốn trụ cột chính, bao gồm (1) Khai thác hệ sinh thái cổ đông để tận dụng nguồn khách hàng và vốn chi phí thấp, (2) Đẩy mạnh số hóa, trọng tâm vào việc nâng cao trải nghiệm khách hàng, (3) Phát triển tín dụng xanh để đón đầu xu hướng và tiếp cận nguồn vốn quốc tế ưu đãi, và (4) Chuyên biệt hóa theo phân khúc khách hàng hoặc ngành dọc nhằm xây dựng lợi thế cạnh tranh trong các thị trường ngách.
- Việc triển khai các trụ cột chiến lược này giúp các ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động thông qua việc tối ưu chi phí vốn, gia tăng CASA, mở rộng nguồn thu ngoài lãi, đồng thời nâng cao khả năng mở rộng tệp khách hàng và gia tăng thị phần trong các phân khúc mục tiêu. Tuy nhiên, các chiến lược này cũng đi kèm những rủi ro nhất định, bao gồm rủi ro tập trung vào một nhóm khách hàng, hạn chế dư địa tăng trưởng dài hạn khi tập trung vào thị trường ngách, cũng như mức độ nhạy cảm cao hơn với biến động của chu kỳ kinh tế, tiêu dùng.

Thị trường thép 2 tháng 2026 – Sản lượng tiêu thụ phân hóa, giá bán đã ghi nhận sự phục hồi

01-04-2026
: HPG, HSG, GDA, NKG
: Nguyên vật liệu
: Dương Trần
Tags: Thép
- Sản lượng tiêu thụ phân hóa: Thép xây dựng và HRC ghi nhận tăng trưởng ấn tượng (lũy kế 2 tháng tăng lần lượt 39% và 214% YoY) nhờ nhu cầu nội địa và đóng góp công suất từ Dung Quất 2 (riêng HRC của HPG tăng 82% YoY). Trái ngược lại là đà sụt giảm của nhóm tôn mạ (-22% YoY, do kênh xuất khẩu giảm mạnh tới 45%) và ống thép đi ngang.
- Giá bán đã ghi nhận sự phục hồi: Giá thép trong nước bật tăng trở lại, dẫn đầu bởi mác thép xây dựng (+10% YTD) và thép cán (tăng nhẹ trong nửa cuối tháng 3). Đà tăng trong Quý 1/2026 chủ yếu xuất phát từ áp lực chi phí đẩy, bao gồm giá than cốc (+3% YTD), quặng sắt (+4% YTD) và cước vận tải neo cao do giá dầu.
- Kỳ vọng sự phục hồi rõ ràng hơn từ Quý 2: Ngành thép có thể được hưởng lợi và phục hồi tích cực nhờ hai động lực chính: (1) Kỳ vọng áp thuế từ kết quả điều tra chống lẩn tránh phòng vệ thương mại đối với thép khổ rộng nhập khẩu từ Trung Quốc, và (2) Bước vào mùa xây dựng cao điểm, tạo dư địa tăng giá bán để bù đắp chi phí và cải thiện biên lợi nhuận.

DPM – KQKD Q4/2025 phục hồi mạnh mẽ và kỳ vọng bứt phá lợi nhuận trong Q1/2026

31-03-2026
: DPM
: Phân bón
: Hiển Lê
Tags:
- Kết quả kinh doanh Q4/2025 của doanh nghiệp ghi nhận sự phục hồi ấn tượng với doanh thu thuần đạt 3.414 tỷ đồng (+8% YoY) và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ (LNST CĐM) đạt 230 tỷ đồng, xoay chuyển mạnh mẽ so với mức lỗ 20 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Động lực tăng trưởng doanh thu chủ yếu đến từ mảng bán buôn và NPK ước tính tăng trưởng lần lượt 70%/54% YoY, bù đắp cho sự sụt giảm nhẹ 7% YoY ở mảng phân bón Urea do sản lượng tiêu thụ phân bón giảm 21% YoY.
- Điểm sáng lớn nhất nằm ở biên lợi nhuận gộp Q4/2025 khi tăng vọt lên mức 19,5% (so với 12,3% cùng kỳ), nhờ giá bán Urea tăng 11% YoY trong khi giá khí đầu vào giảm nhẹ 1% YoY. Tuy nhiên, áp lực chi phí vận hành gia tăng đáng kể khi tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý trên doanh thu đẩy lên mức 18,2%, chủ yếu do chi phí quản lý khác tăng gấp đôi cùng kỳ. Bù lại, hoạt động tài chính đóng góp tích cực với doanh thu tài chính đạt 239 tỷ đồng (+85% YoY) nhờ lãi tiền gửi từ lượng tiền mặt ngắn hạn dồi dào, dù chi phí lãi vay cũng tăng mạnh 96%.
- Tính chung cả năm 2025, doanh nghiệp vượt kế hoạch với doanh thu đạt 16.820 tỷ đồng (+23% YoY) và lợi nhuận sau thuế đạt 1.074 tỷ đồng, tăng trưởng gấp đôi so với năm 2024 nhờ nới rộng khoảng cách giữa giá bán Urea đầu ra (+14% YoY) và giá khí đầu vào (-1% YoY).
- Bước sang Q1/2026, DPM đang đứng trước cơ hội bứt phá lợi nhuận khi sở hữu lượng hàng tồn kho dồi dào (113 ngày) tại vùng giá vốn cực thấp (tương đương dầu Brent 60 USD/thùng). Trong bối cảnh giá Urea thế giới leo thang do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi kép từ việc nới rộng chênh lệch Giá bán - Giá vốn (Spread), hướng tới việc tiệm cận mức lợi nhuận đỉnh điểm của chu kỳ năm 2022.

Giá dầu trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông: Từ cú sốc giá đến tác động thực tế lên ngành dầu khí

30-03-2026
: PVS, PVD, PVT, PLX, GAS
: Dầu khí
: Hương Lê
Tags:
- Chúng tôi nhận thấy giá dầu đã có biến động mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt sau xung đột liên quan đến Iran. Giá dầu đã tăng mạnh trong ngắn hạn, phản ánh lo ngại về gián đoạn nguồn cung, tuy nhiên các yếu tố cơ bản cho thấy xu hướng trung hạn vẫn nghiêng về trạng thái cân bằng.
- Các tổ chức lớn như S&P Global, IEA và EIA đưa ra các quan điểm khác nhau, nhưng đều thống nhất rằng: cú sốc giá dầu hiện tại mang tính ngắn hạn, trong khi triển vọng trung hạn phụ thuộc vào khả năng thị trường tái cân bằng cung – cầu.
- Đối với ngành dầu khí, chúng tôi cho rằng giá dầu cao hỗ trợ phân khúc thượng nguồn và trung nguồn, trong khi phân khúc hạ nguồn phụ thuộc vào tồn kho và độ trễ chi phí.

Xu hướng phát triển mô hình bán lẻ dược phẩm: Ngày càng mở rộng chuỗi giá trị theo chiều dọc

27-03-2026
: FRT
: Bán lẻ
: Anh Trần
Tags: FRT
- Mô hình bán lẻ dược phẩm truyền thống đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo nguồn cung ứng đến tay người tiêu dùng và tăng khả năng tiếp cận thuốc với giá cả hợp lý. Mô hình này có thể mở rộng rất nhanh với những đơn vị có nguồn lực về vốn, công nghệ và hệ thống phân phối mạnh; nhưng đổi lại, đây là mô hình có biên lợi nhuận khiêm tốn nhất trong chuỗi.
- Điểm cốt yếu thành công của một chuỗi bán lẻ dược nằm ở cung cấp đa dạng loại thuốc (quan hệ với nhà cung cấp) đến tay người tiêu dùng nhanh nhất (hệ thống cửa hàng rộng) với giá rẻ nhất (lợi thế quy mô). Ngoài ra việc ứng dụng công nghệ để quản trị chi phí, dịch vụ cung cấp bởi nhân viên trên toàn chuỗi ngày càng quan trọng do mô hình có biên lợi nhuận mỏng/rào cản gia nhập thấp và tầm quan trọng ngày càng lớn của “nhận diện thương hiệu/dịch vụ chuỗi”.
- Nhìn sang các quốc gia phát triển như Mỹ, các nhà bán lẻ hiện đại nắm giữ thị phần lớn còn dựa trên một điểm nhấn chiến lược khác – leo lên những “nấc thang dịch vụ mới”, tức chuyển đổi từ nhà bán lẻ dược phẩm truyền thống sang trung tâm chăm sóc sức khỏe toàn diện đã có từ cách đây vài năm, với sự tích hợp của chuỗi nhà thuốc & quản lý phúc lợi dược phẩm & phòng khám cơ bản và dịch vụ y tế dự phòng. Nhìn về Việt Nam, chúng tôi nhận thấy chuỗi nhà thuốc Long Châu, hiện nắm giữ thị phần lớn nhất (21%) đang áp dụng chính các mô hình mở rộng đề cập trên để gia tăng thị phần mạnh mẽ, trở thành người định hình/dẫn dắt xu hướng ngành bán lẻ dược phẩm mới tại đây.

SCS – Vận hành hiệu quả hơn là chìa khóa thúc đẩy lợi nhuận trong Q4-FY25

26-03-2026
: SCS
: Hàng không
: Cao Ngọc Quân
Tags:
- Trong Q4-FY25, doanh thu và LNST của SCS lần lượt đạt 327 tỷ đồng (+11% YoY) và 188 tỷ đồng (+11% YoY). Sản lượng hàng hóa quốc tế và nội địa lần lượt đạt 62 nghìn tấn (+7% YoY) và 15 nghìn tấn (-3% YoY). Giá dịch vụ bình quân đạt 4,0 triệu VNĐ/tấn (+6% YoY) do tăng tỷ trọng sản lượng hàng hóa quốc tế so với cùng kỳ.
- Lũy kế năm 2025, doanh thu thuần và LNST lần lượt đạt 1.197 tỷ đồng (+15% YoY) và 752 tỷ đồng (+8% YoY), tương ứng hoàn thành 104% và 109% dự phóng của chúng tôi. Nhìn chung, KQKD trong năm 2025 của SCS phù hợp với kỳ vọng kể từ đầu năm của chúng tôi.